 |
|
|
Số lượt truy cập
|
|
|
|
|
|
SáCH NGà NH GIáO DÁ»¥C MÁº§M NON
|
|
|
|
| ĐẠI CƯƠNG VỀ GIÁO DỤC TRẺ KHIẾM THÍNH |
| Tác giả: Nguyễn Thị Hoàng Yến |
| Nhà xuất bản: Đại học Sư phạm |
| Ngôn ngữ: Việt |
| Chuyên ngành: Giáo dục mầm non |
| Từ khoá: Đại cương |
| Khổ: 14,5x20,5cm | | Giá bìa: 28,500 |
|
|
Tóm tắt Người khuyết tật, kể cả trẻ em là một bộ phận dân cư tồn tại khách quan trong xã hội loài người. trong thời đại văn minh ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề này. công ước của liên hợp quốc về quyền trẻ em là một ví dụ tiêu biểu. đây là văn bản quốc tế về trẻ em khá toàn diện và mang tính pháp lí cao. tính đến 1-7-1998 đã có 191 quốc gia phê chuẩn, hoặc tham gia công ước. căn cứ vào trình độ phát triển, phong tục tập quán, mỗi quốc gia có cách giải quyết riêng vấn đề về người khuyết tật để đảm bảo cho nhóm dân cư này được hoà nhập vào xã hội. lúc sinh thời, chủ tịch hồ chí minh vĩ đại đã có một câu nói nổi tiếng: “tàn mà không phế”, đó cũng chính là thái độ của đảng, chính phủ và nhân dân việt nam đối với bộ phận người tàn tật. Việt nam là một nước có số lượng người khuyết tật nói chung và trẻ em bị khuyết tật nói riêng khá lớn và đa dạng. theo số liệu điều tra sơ bộ, có khoảng gần 5 triệu người khuyết tật, chiếm 5% dân số, trong đó trẻ em dưới 15 tuổi bị khuyết tật chiếm khoảng 27% so với tổng số người khuyết tật, tức là khoảng 1,2 đến 1,5% so với dân số. Kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc việt nam “thương người như thể thương thân”, đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến những người thiệt thòi trong xã hội, nhất là đối với trẻ em. trong điều kiện đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế còn chậm phát triển, chúng ta đã từng bước xây dựng, thực hiện chính sách và biện pháp nhằm giúp đỡ người khuyết tật nói chung, nhất là giúp đỡ trẻ em bị khuyết tật về vật chất, tinh thần, vượt qua khó khăn riêng để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng. quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam đã ban hành pháp lệnh về người khuyết tật và kí lệnh công bố ngày 8 tháng 8 năm 1998. chính phủ đã ban hành nghị định số 55/1999/nđ-cp ngày 10 tháng 7 năm 1999, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số pháp lệnh về người khuyết tật. Việt nam là nước thứ hai trên thế giới tham gia kí công ước về quyền trẻ em; luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; luật phổ cập giáo dục tiểu học được ban hành vào năm 1991 và nhiều hoạt động khác vì trẻ em thể hiện mối quan tâm đặc biệt của nhà nước và xã hội ta đến sự nghiệp chăm lo giáo dục thế hệ trẻ, trong đó bao gồm cả trẻ em bị khuyết tật. Tuy nhiên, giáo dục đặc biệt (gdđb) là một lĩnh vực vẫn còn mới mẻ đối với việt nam cả về lí luận và thực tiễn. về mặt nhận thức nhiều người còn coi giáo dục đặc biệt là vấn đề nhân đạo đơn thuần hoặc đề cao khía cạnh nhân đạo và xem nhẹ khía cạnh khoa học. điều này không sai, bởi bản thân giáo dục đặc biệt mang tính nhân đạo rất cao khi nhìn ở góc độ xã hội. nhưng cũng đã đến lúc phải đặt vấn đề nghiên cứu và xem xét giáo dục đặc biệt dưới góc độ khoa học. cuốn sách này sẽ nghiên cứu vấn đề giáo dục đặc biệt ở góc độ khoa học giáo dục. Giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật vào các trường bình thường đang là một xu hướng phổ biến trên thế giới nói chung và đặc biệt đang được triển khai ở một số nước có hệ thống giáo dục đặc biệt phát triển. tuy nhiên đây chưa phải là một giải pháp tốt nhất và duy nhất để giải quyết vấn đề học tập cho trẻ khuyết tật. đã có nhiều nghiên cứu và thử nghiệm có kết quả về giáo dục hoà nhập song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải xem xét và lí giải. đây là vấn đề còn mới mẻ đối với giáo dục việt nam. chúng ta sẽ phát triển giáo dục đặc biệt theo hướng nào? trong báo cáo định hướng phát triển giáo dục cho trẻ khuyết tật tại hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện nđ26/cp, bộ gd-đt đã quyết định giáo dục hoà nhập (gdhn) là hướng phát triển chính. nếu lấy giáo dục hoà nhập như là biện pháp cơ bản để giải quyết vấn đề giáo dục cho trẻ khuyết tật ở việt nam thì phải giải quyết vấn đề tổ chức giáo dục hoà nhập. Trong lịch sử phát triển của gdđb trên thế giới, giáo dục cho nhóm trẻ khiếm thính luôn luôn tiên phong đi đầu trong các thử nghiệm giáo dục và cũng là lĩnh vực phát triển mạnh nhất so với các lĩnh vực giáo dục cho các nhóm trẻ khuyết tật khác. việt nam ta cũng không nằm ngoài xu thế này. giáo dục đặc biệt nói chung và gdhn cho trẻ khiếm thính nói riêng của việt nam có thể đi sau nhiều nước nhưng điều đó không hề cản trở chúng ta có những bước phát triển nhảy vọt nếu biết tổng kết và kế thừa những thành tựu đã có, rút kinh nghiệm qua những thất bại trong quá khứ và hiện tại để tìm được con đường phát triển một cách tối ưu trong điều kiện của riêng mình. với quan niệm như vậy thì gdhn cho trẻ khuyết tật trong các trường bình thường có khả năng phát triển về lí luận cũng như về thực tiễn. nếu mục đích của hoà nhập mang đậm màu sắc nhân đạo thì các biện pháp tổ chức như thế nào để hoà nhập có hiệu quả là vấn đề có tính hệ thống của khoa học phải nghiên cứu kĩ. cuốn sách này nghiên cứu các vấn đề đại cương về giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật thính giác. vấn đề này vừa đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong thực tiễn giáo dục cho trẻ khuyết tật thính giác hiện nay, vừa góp một phần nhỏ về lí thuyết gdhn ở việt nam, vừa làm cơ sở để phát triển các biện pháp phù hợp trong các nhóm trẻ khuyết tật khác nữa.
|
Tổng số 2 trang. Xem trang:
| 1 | 2
|
|
|
|